Chuyên Môn

Không dẫn lưu, không kháng sinh và dán keo sinh học: Bác sĩ không sợ nhiễm trùng ư?

Có chứ, trên đời này nếu có phẫu thuật viên nào trả lời tôi không sợ nhiễm trùng thì chắc là người đó … nói dối. Bản thân mình không phải là sợ mà là cực kỳ sợ.

Nhưng sợ không có nghĩa là chúng ta dùng kháng sinh một cách tràn lan cho … đỡ sợ, hoặc không các áp dụng các cải tiến khoa học kỹ thuật mới để tăng sự hài lòng và sự thuật tiện cho người bệnh. Mọi cải tiến đều phải được nghiên cứu tỉ mỉ và có tính khoa học của nó. Mình tự hào nói rằng trong 2 năm gần đây mình không dùng kháng sinh sau mổ với hầu hết các phẫu thuật chấn thương chỉnh hình và y học thể thao thì tỉ lệ nhiễm trùng đâu đó chỉ gặp 1, 2 ca. Và 10 tháng gần đây, với trải nghiệm khoảng hàng trăm ca phẫu thuật lớn cũng như các tiểu phẫu ống cổ tay sử dụng keo dán sinh học, (trộm vía) cũng chưa ghi nhận ca nào nhiễm trùng. Cùng với đó là sự giảm nguy cơ vi khuẩn đa kháng do lạm dụng kháng sinh gây ra. 

Vậy trong bài viết này, mình sẽ phân tích để mọi người hiểu, tại sao chúng ta có thể làm như vậy. 

Khi phẫu thuật, có 2 nhóm giải pháp giúp chúng ta chống nhiễm trùng:

  1. Nhóm giải pháp giảm hoặc làm yếu đi các yếu tố tấn công (vi khuẩn) ví dụ như: Công tác vô trùng phòng mổ, tiệt trùng dụng cụ, sử dụng các quy tắc vô khuẩn trong phòng mổ (rửa tay, mặc áo, đi găng, đeo khẩu trang đúng quy cách …), đánh rửa và sát khuẩn vùng mổ, sử dụng kháng sinh dự phòng trong lúc mổ, chăm sóc và thay băng vết thương trong mổ,… và rút ngắn thời gian phẫu thuật. 
  2. Nhóm giải pháp tăng cường các yếu tố phòng chống và bảo vệ ví dụ như phẫu thuật làm giảm các tổn thương phần mềm, hạn chế mất máu trong mổ, sử dụng các đường mổ nhỏ ít xâm lấn hoặc phẫu thuật nội soi…

Mình sẽ nói về nhóm 2 trước vì cái này phụ thuộc đa phần vào phẫu thuật viên. Việc sử dụng các đường mổ ít xâm lấn đóng vai trò rất quan trọng. Khái niệm “ít xâm lấn” không phải là đường mổ càng nhỏ càng tốt mà là càng ít tổn thương cơ và phần mềm càng tốt. Ví dụ như đường mổ khớp háng không cắt cơ. Để vào được đến bên trong xương, khớp, vi khuẩn cần trải qua các lớp da, tổ chức dưới da, gân cơ, bao khớp. Nếu các lớp này được bảo tồn nguyên vẹn thì nó sẽ tạo nên một hàng rào vững chắc ngăn cản vi khuẩn. Thậm chí, khi sử dụng các đường mổ lớn thì việc đi đúng các vách gian cơ theo giải phẫu, ít sử dụng dao điện và bảo tồn màng xương bao giờ cũng sẽ giúp vết mổ nhanh lành, giảm đau và giảm mất máu. Và khi không chảy máu, thì ta có thể không dùng dẫn lưu và dán keo sinh học. 

Hạn chế mất máu cũng vô cùng quan trọng. Giống như 2 bên đánh nhau thì nguồn tiếp tế lương thực bao giờ cũng rất quan trọng. Khi phẫu thuật mất máu nhiều đồng nghĩa với việc cung cấp dinh dưỡng cho vết mổ sẽ kém hơn dẫn đến chậm liền và tăng nguy cơ nhiễm khuẩn.

Nhóm giải pháp thứ nhất, nghe thì có vẻ dễ làm nhưng thực ra lại khó hơn vì nó cần sự phối hợp của rất nhiều khâu và hàng chục nhân viên y tế trong quá trình trước trong và sau phẫu thuật. Có thể khi tiếp xúc với mình khi khám bệnh, các bệnh nhân sẽ cảm thấy mình là một người khá vui tính nhưng trong phòng mổ thì ngược lại, rất khó tính. Không ai muốn lại trở nên khó tính trong phòng mổ, nhưng nếu không khó tính thì người trả giá đôi khi chính là người bệnh. Mình luôn yêu cầu dụng cụ mổ phải được hấp tiệt trùng, vết mổ được đánh rửa, sát khuẩn cẩn thận, tất cả những người có mặt trong phòng mổ phải tuyệt đối tôn trọng nguyên tắc vô trùng khiến cho mình trở thành người “hay soi” với đôi mắt “mang hình viên đạn” .

Ảnh 1-2: Đôi mắt mang hình viên đạn chuyên soi lỗi của BS Vũ Anh

Một trong những ví dụ tiêu biểu mà mình rất ghét đó là đeo khẩu trang nhưng hai lỗ mũi lại hở ra ngoài. Thật là ngớ ngẩn vì điều này đồng nghĩa toàn bộ vi khuẩn từ đường hô hấp trên sẽ bay thẳng vào vết mổ, nhân tiện nếu bạn muốn hắt xì thì bạn làm thế nào nhỉ ? Và còn rất nhiều các ví dụ khác nữa có thể tiềm ẩn các nguy cơ nhiễm trùng. Tóm lại, nguyên tắc đặt ra là để chúng ta tuân thủ chứ không phải để ta vi phạm vì rõ ràng câu chuyện ở đây là quyền lợi của người bệnh. 

Vậy khi đã thực hiện tốt hai nhóm giải pháp trên thì ta hoàn toàn có thể tự tin thực hiện các phẫu thuật không dẫn lưu, dán keo sinh học và không sử dụng kháng sinh sau mổ. Tất nhiên, mọi lý thuyết đều là tương đối. Vẫn có một số các trường hợp nhiễm trùng mà chẳng thế giải thích tại sao và cũng phải tùy vào từng cơ sở phẫu thuật mà áp dụng sao cho linh hoạt chứ không thể đánh đồng tất cả. 

Việc sử dụng kháng sinh hay không sử dụng kháng sinh không phải để thể hiện là ai mổ giỏi hơn ai mà đó là thể hiện sự suy nghĩ, cân nhắc cẩn thận của phẫu thuật viên trước khi kê kháng sinh cho người bệnh. Nếu ca bệnh được đánh giá là có nguy cơ nhiễm trùng thì việc dùng kháng sinh là vô cùng cần thiết và ngược lại. 

Và cuối cùng, điều quan trọng nhất có lẽ là sự đồng hành, sự chia sẻ và sự cảm thông từ cả hai phía bác sỹ và người bệnh trong quá trình điều trị cho dù đó có là một phẫu thuật thuận lợi, thành công hoặc không may mắn bị nhiễm trùng.